Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Phạm vi điều chỉnh
Quy chế này quy định về cơ chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm về kiểm soát thủ tục hành chính và giải quyết thủ tục hành chính (sau đây viết tắt là TTHC) được tiếp nhận, trả kết quả tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Trị (sau đây gọi tắt là Trung tâm) và qua Cổng Dịch vụ công quốc gia theo quy định của pháp luật về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
2. Đối tượng áp dụng
a) Trung tâm, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc tại Trung tâm.
b) Các sở, ban, ngành thuộc UBND tỉnh, các cơ quan ngành dọc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh (sau đây gọi chung là các cơ quan có thẩm quyền).
c) UBND các xã, phường, đặc khu.
c) Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có yêu cầu thực hiện TTHC và liên quan trong giải quyết TTHC được tiếp nhận, trả kết quả tại Trung tâm (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân).
d) Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích, doanh nghiệp, cá nhân được thuê hoặc được ủy quyền thực hiện TTHC theo quy định của pháp luật; doanh nghiệp được thuê để luân chuyển hồ sơ (nếu có); các cơ quan, tổ chức được ủy quyền thu phí, lệ phí (nếu có) theo quy định.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Cơ chế một cửa trong giải quyết TTHC là phương thức tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết TTHC, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân của một cơ quan có thẩm quyền thông qua Bộ phận Một cửa.
2. Cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết TTHC là phương thức phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết một TTHC hoặc một nhóm TTHC có liên quan với nhau, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân thông qua Bộ phận Một cửa.
3. Bộ phận Một cửa là tên gọi chung của Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc chuyển hồ sơ giải quyết, trả kết quả giải quyết TTHC, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân.
4. Hồ sơ hợp lệ là hồ sơ có đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ theo quy định của pháp luật.
5. Hồ sơ không hợp lệ là hồ sơ không có đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật về TTHC, hoặc đủ nhưng nội dung không được khai đúng, khai đủ theo quy định của pháp luật.
6. Hệ thống thông tin giải quyết TTHC là hệ thống thông tin nội bộ có chức năng hỗ trợ việc tiếp nhận, giải quyết, theo dõi tình hình tiếp nhận, giải quyết, kết quả giải quyết TTHC của các cơ quan, đơn vị; kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với hệ thống quản lý văn bản để xử lý hồ sơ trên môi trường mạng; kết nối, tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia để đăng tải công khai kết quả giải quyết TTHC và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến.
7. Cổng dịch vụ công quốc gia là cổng tích hợp thông tin về dịch vụ công trực tuyến, tình hình giải quyết, kết quả giải quyết TTHC trên cơ sở kết nối, truy xuất dữ liệu từ hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh và các giải pháp hỗ trợ nghiệp vụ, kỹ thuật do Văn phòng Chính phủ thống nhất xây dựng, quản lý.
8. Thực hiện TTHC không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh là việc cho phép tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qua hình thức trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một của trong phạm vì cấp tỉnh để thuận tiện cho việc thực hiện của tổ chức, cá nhân, không phân biệt cấp chính quyền, địa giới hành chính nơi cư trú, nơi đặt trụ sở hoặc nơi đã cấp các loại giấy tờ cho tổ chức, cá nhân.
9. Đánh giá việc giải quyết TTHC là nhận xét, kết luận của cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân về chất lượng và tiến độ thực hiện việc hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết, trả kết quả giải quyết TTHC của Bộ phận Một cửa, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên thực hiện và cơ quan giải quyết TTHC.
Điều 3. Nguyên tắc kiểm soát TTHC và việc tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả TTHC
1. Kiểm soát TTHC phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách TTHC, cải cách hành chính; bảo đảm điều phối, huy động sự tham gia tích cực, rộng rãi của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào quá trình kiểm soát TTHC.
2. Kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa TTHC không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bổ sung TTHC cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định TTHC đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC.
3. Kiểm soát TTHC được thực hiện ngay khi dự thảo quy định về TTHC và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC.
4. Lấy sự hài lòng của tổ chức, cá nhân là thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan có thẩm quyền.
5. Việc tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả TTHC thực hiện tại Trung tâm cho tổ chức, cá nhân được quản lý tập trung, thống nhất theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền.
6. Giải quyết TTHC kịp thời, nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật; đảm bảo công bằng, bình đẳng, khách quan, công khai, minh bạch và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền và theo quy định của pháp luật về kiểm soát TTHC.
7. Quá trình giải quyết TTHC được đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, giám sát, đánh giá bằng các phương thức khác nhau trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và có sự tham gia của tổ chức và cá nhân.
8. Không làm phát sinh chi phí thực hiện TTHC cho tổ chức, cá nhân ngoài quy định của pháp luật.
9. Cán bộ, công chức, viên chức cơ quan có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm giải trình về thực thi công vụ trong giải quyết TTHC theo quy định của pháp luật.
10. Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế có liên quan đến thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
Điều 4. Chế độ làm việc tại Trung tâm
1. Việc quản lý, điều hành công việc hằng ngày tại Trung tâm thực hiện theo chế độ Thủ trưởng; có sự phối hợp chặt chẽ giữa Giám đốc Trung tâm và Thủ trưởng các cơ quan có thẩm quyền.
2. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc tại Trung tâm phải chịu sự quản lý, điều hành trực tiếp của Giám đốc Trung tâm; khi giao dịch, thực thi công vụ phải thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về đạo đức, văn hóa giao tiếp và các quyền, nghĩa vụ của công chức, viên chức; đối với cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan có thẩm quyền được cử đến tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC tại Trung tâm đồng thời phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình về chuyên môn, nghiệp vụ theo thẩm quyền quản lý.
3. Công chức, viên chức, người lao động thuộc biên chế của Trung tâm thực hiện xử lý công việc theo quy chế làm việc của Văn phòng UBND tỉnh và của Trung tâm.
4. Cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan có thẩm quyền được điều động đến làm việc tại Trung tâm phải thường trực tại nơi làm việc theo thời gian quy định tại Khoản 3 Điều 5 Quy chế này; trường hợp đi công tác hoặc vắng có lý do thì phải báo cáo với Giám đốc Trung tâm và Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền trước 02 ngày làm việc bằng văn bản (trừ trường hợp đặc biệt, đột xuất không thể báo trước) để cơ quan có thẩm quyền bố trí cán bộ, công chức, viên chức dự phòng thay thế theo Quyết định của UBND tỉnh.
5. Trong giờ làm việc hành chính tại Trung tâm, các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phải mặc đồng phục do Trung tâm quy định (trừ cán bộ, công chức, viên chức của những cơ quan có thẩm quyền có đồng phục của ngành theo quy định), đeo thẻ ngành, thẻ công chức, viên chức để thuận tiện trong giao dịch công tác.
6. Việc tổ chức họp, giao ban công việc của Trung tâm phải bố trí vào thời điểm phù hợp, không được để ảnh hưởng đến việc giải quyết TTHC của tổ chức, cá nhân và các cơ quan có thẩm quyền, đơn vị liên quan trong giờ hành chính.
Điều 5. Thời gian làm việc tại Trung tâm
1. Thời gian giải quyết TTHC quy định tại Quy chế này là thời gian do pháp luật quy định và được tính kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đối với những TTHC được quy định thời hạn giải quyết trong ngày nhưng hồ sơ tiếp nhận sau 15 giờ thì được trả kết quả vào ngày làm việc tiếp theo.
2. Ngày làm việc được tính trong thời gian giải quyết TTHC tại Quy chế này là các ngày từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần theo quy định tại Quyết định số 188/1999/QĐ-TTg ngày 17/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ, trừ ngày nghỉ lễ, tết theo quy định của Luật Lao động.
Trường hợp TTHC được UBND tỉnh quy định tổ chức làm việc ngày thứ Bảy hàng tuần theo quy định tại Quyết định số 14/2010/QĐ-TTg ngày 12/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức làm việc ngày thứ Bảy hàng tuần để tiếp nhận và giải quyết TTHC thì ngày làm việc là các ngày từ thứ Hai đến thứ Bảy hàng tuần, trừ ngày nghỉ lễ, tết theo quy định của Luật Lao động.
3. Thời gian làm việc:
a) Buổi sáng: Từ 07 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút.
b) Buổi chiều: Từ 13 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút.
4. Thời gian tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ TTHC:
a) Buổi sáng: Từ 08 giờ 00 phút đến 11 giờ 00 phút.
b) Buổi chiều: Từ 13 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút.
(Trung tâm dành thời gian đầu giờ buổi sáng; cuối giờ buổi sáng và buổi chiều để xử lý nghiệp vụ, tổng hợp, tiếp nhận và bàn giao hồ sơ giữa bộ phận Một cửa và cơ quan có thẩm quyền giải quyết)
Điều 6. Những hành vi không được làm trong thực hiện TTHC[1]
1. Nghiêm cấm cán bộ, công chức được phân công thực hiện TTHC; hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết, trả kết quả giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại trụ sở Trung tâm và tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Tiết lộ thông tin về hồ sơ tài liệu và các thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, bí mật của tổ chức, cá nhân của đối tượng thực hiện TTHC mà mình biết được khi thực hiện TTHC hoặc sử dụng thông tin đó để trục lợi, trừ trường hợp được đối tượng thực hiện TTHC chính đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin đó để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Từ chối thực hiện, kéo dài thời gian giải quyết TTHC hoặc tự ý yêu cầu bổ sung hồ sơ, giấy tờ, nộp các chi phí ngoài quy định của pháp luật mà không nêu rõ lý do bằng văn bản;
c) Hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân thực hiện TTHC; lợi dụng các quy định, các vướng mắc về TTHC để trục lợi;
d) Nhận tiền hoặc quà biếu dưới bất cứ hình thức nào từ đối tượng thực hiện TTHC khi tiếp nhận, giải quyết TTHC ngoài phí, lệ phí thực hiện TTHC đã được quy định và công bố công khai;
đ) Đùn đẩy trách nhiệm, thiếu hợp tác, thiếu công bằng, không khách quan, không đúng pháp luật, chậm trễ, gây cản trở trong quá trình giải quyết TTHC.
e) Cản trở tổ chức, cá nhân lựa chọn hình thức nộp hồ sơ, nhận, trả kết quả giải quyết TTHC theo quy định của pháp luật.
g) Cản trở hoặc ngăn chặn trái phép quá trình truyền, gửi, nhận dữ liệu điện tử; thay đổi, xóa, hủy, giả mạo, sao chép, di chuyển trái phép một phần hoặc toàn bộ nội dung dữ liệu thực hiện TTHC.
h) Trực tiếp giao dịch, yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ không thông qua Trung tâm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
i) Ứng xử, giao tiếp không phù hợp với quy chế văn hóa công sở.
k) Yêu cầu cung cấp lại thông tin, giấy tờ, tài liệu điện tử hoặc tài liệu đã được số hóa có giá trị pháp lý theo quy định pháp luật, được kết nối, chia sẻ dữ liệu trong quá trình tiếp nhận, giải quyết TTHC, trừ trường hợp sử dụng cho mục đích xác minh, thẩm tra lại tính xác thực của thông tin, giấy tờ, tài liệu đã được số hóa.
l) Các hành vi vi phạm pháp luật khác trong thực hiện công vụ.
2. Tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện TTHC hoặc có yêu cầu giải quyết TTHC không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Nghiêm cấm đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền; đưa hối lộ hoặc dùng các thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong thực hiện thủ tục hành chính.
b) Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.
c) Gian lận, mạo nhận, chiếm đoạt, sử dụng trái phép hồ sơ, tài liệu, kết quả giải quyết TTHC.
d) Cản trở việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân.
đ) Dùng các thủ đoạn khác để lừa dối, hối lộ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên trong quá trình giải quyết TTHC.
e) Vu khống, phản ánh, kiến nghị, mạo danh người khác để tố cáo sai sự thật, không có căn cứ, không có chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả giải quyết TTHC.
g) Xúc phạm uy tín của cơ quan có thẩm quyền; dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong quá trình hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả giải quyết TTHC.
h) Nhận xét, đánh giá thiếu khách quan, không công bằng, không trung thực, không đúng pháp luật, không đúng thực tế với việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong quá trình hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả giải quyết TTHC.
i) Các hành vi vi phạm khác theo quy định của pháp luật.
3. Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ để thực hiện công việc hỗ trợ, tổ chức, cá nhân được thuê hoặc được ủy quyền thực hiện TTHC không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Cản trở quá trình thực hiện, giải quyết TTHC.
b) Lừa dối cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, người thuê, người ủy quyền thực hiện TTHC.
c) Tiết lộ thông tin về hồ sơ, tài liệu, dữ liệu cá nhân và các thông tin liên quan đến bí mật của tổ chức, cá nhân hoặc sử dụng thông tin đó để trục lợi.
d) Các hành vi vi phạm khác theo quy định của pháp luật.
Nguồn: Quyết định số 2393/QĐ-UBND ngày 03/11/2025 của UBND tỉnh Quảng Trị
[1] Điều 5 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ; Điều 6 Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010